Thứ Sáu, 30 tháng 10, 2015

Vai trò của việc quản lý giá nhập, giá bán trong cửa hàng bán lẻ

Trong kinh doanh thương mại, giá là một phạm trù hết sức quan trọng, đặc biệt là giá bán nó được coi là chiến lược, khi nào cần giữa nguyên giá niêm yết và khi nào cần hiệu chỉnh giảm giá. Giữa giá mua và giá bán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự tương tác này ảnh hưởng rất lớn tới công việc kinh doanh của cửa hàng, đòi hỏi người quản lý phải biết cách ghi nhận giá nhập, giá bán một cách chi tiết và rõ ràng. Để ghi nhận chi tiết và rõ ràng, việc ứng dụng một giải pháp phần mềm vào quản lý cũng là một ưu tiên hàng đầu đối với các chủ cửa hàng. Như vậy, quản lý giá mua và giá bán trong cửa hàng có vai trò như thế nào? 

Giá mua vào thấp tạo thuận lợi cho chiến lược giá bán 

Đảm bảo mua hàng với chi phí thấp nhất, tạo điều kiện thuận lợi cho chiến lược xác định giá đầu ra. Dựa vào giá tốt ở đầu vào, cửa hàng có thể hạ giá bán thấp hơn các đối thủ cạnh tranh để kéo khách hàng về phía mình. 

Vẫn biết chi phí mua hàng không chỉ nằm ở giá mua bao nhiêu mà còn phụ thuộc vào điều khoản thanh toán với nhà cung cấp, hàng mua ở đâu, của ai, số lượng bao nhiêu,… nhưng việc xác định giá mua hàng rất quan trọng vì nó chiếm tỉ trọng lớn trong việc xác định giá vốn của hàng hóa, từ đó ảnh hưởng tới việc xác định giá bán ra. 

Giá mua vào tốt cũng là yếu tố để xác định tìm kiếm sản phẩm thay thế khi mà khách hàng sẵn sàng cho sự thay đổi đó. 

Ứng dụng phần mềm bán hàng "1C:BÁN LẺ 8" tại 06 điểm cửa hàng Công ty TNHH Đầu tư Phát triển và Dịch vụ Hà Linh

Dễ dàng nhận chiết khấu lớn từ nhà cung cấp

Việc quản lý lượng hàng bán ra sẽ giúp chủ cửa hàng dễ dàng thương lượng với nhà cung cấp về giá và cam kết tiêu thu với một số lượng nhất định trong kỳ. Khi đảm bảo cam kết tiêu thụ, chủ cửa hàng dễ dàng nhận được khoản chiết khấu lớn từ các nhà cung cấp. 

Chia sẻ thông tin trong chuỗi cửa hàng 

Lịch sử giá mua hàng từ nhiều nhà cung cấp sẽ được ghi lại, đặc biệt là chuỗi cửa hàng sử dụng phần mềm 1C:BÁN LẺ 8 có chức năng so sánh giá mua từ các nhà cung cấp trong khoảng thời gian gần nhất, đây là điều kiện thuận lợi để các cửa hàng trong chuỗi có thể tra cứu, tìm kiếm ra nhà cung cấp bán hàng với giá tốt nhất, từ đó dễ dàng lựa chọn nhà cung cấp có giá tốt. Đặc biệt hơn, 1C:BÁN LẺ 8 sẵn sàng giúp chủ cửa hàng tự động phân tích nhu cầu mua hàng và lựa chọn nhà cung cấp đã giao dịch với giá bán hàng thấp nhất trong thời gian gần nhất. 

Lập báo cáo mua hàng 

Một mặt hàng có thể được mua từ nhiều nhà cung cấp, mỗi nhà cung cấp có thể bán nhiều lần cho cửa hàng trong một khoảng thời gian, từ đó lập ra báo cáo mua hàng theo dõi nhật ký mua hàng từ các nhà cung cấp. Khi cửa hàng sử dụng phần mềm 1C:BÁN LẺ 8, người quản lý dễ dàng lập ra báo cáo mua hàng từ nhà cung cấp để so sánh xem từ một mặt hàng nhà cung cấp nào bán cho mình với giá cạnh tranh nhất. 

Lập bảng giá bán hàng hóa 

Khi ghi nhận được lịch sử giá bán, chủ cửa hàng biết được rằng hàng hóa nào ở cửa hàng thu hút khách hàng nhất, hàng nào bán chạy nhất theo từng mùa, từ đó dễ dàng đưa ra quyết định xác định mức giá bán lẻ cho cửa hàng, thậm chí có thể lập giá bán cao hơn giá đối thủ. 

Bảng giá có thể lập riêng cho từng cửa hàng trong chuỗi hay lập trung cho toàn chuỗi sau đó dựa vào từng đặc điểm của mặt hàng mà có thể xây dựng một chính sách giảm giá khác nhau. Đó là đặc thù khi quản lý giá bán ra. 

Dễ dàng chạy các chương trình marketing 

Dựa trên một bảng giá bán lẻ chung kết hợp với chính sách marketing, người quản lý dễ dàng lập ra nhiều chương trình quản lý khách hàng thân thiết, chiết khấu khách hàng VIP, bán hàng tặng hàng, giảm giá đẩy hàng tồn kho, gián bán tâm lý theo giờ vàng, số thứ tự… Như vậy, chỉ cần một bảng giá áp dụng chung, chủ cửa hàng dễ dàng áp dụng nhiều chương trình marketing cùng một lúc. Đơn giản hơn, chính xác hơn, đỡ tốn công sức hơn có thể áp dụng phần mềm 1C:BÁN LẺ 8 vào ứng dụng tại cửa hàng. Khi đó chủ cửa hàng, chỉ cần thiết lập chính sách marketing, phần mềm tự động tính toán và nhân viên thu ngân không cần phải làm gì nhiều hơn ngoài việc trao tặng quà cho khách hàng. 

Chương trình tích điểm được quản lý trong phần mềm bán hàng 1C:BÁN LẺ 8

So sánh giá bán với đối thủ cạnh tranh 

Cùng một mặt hàng, người chủ cửa hàng dễ dàng theo dõi, đối chiếu giá bán của cửa hàng với các đối thủ cạnh tranh. Từ đó, đưa ra chính sách giảm giá cho khách hàng, tặng quà cho khách, bán hàng kèm dịch vụ… nhằm đem lại lợi ích cho khách hàng nhiều hơn.

Lập báo cáo bán hàng 

Quản lý bán hàng dễ dàng lập báo cáo bán hàng của mặt hàng bán chạy nhất, thời gian nào bán chạy nhất và nếu quản lý thông tin khách hàng sẽ biết khách hàng nào tiêu thụ hàng nhiều nhất, có thể dựa vào đó để xây dựng tiêu chí phân hạng khách hàng. 

Lập được ra báo cáo lãi gộp để xác định mặt hàng nào đem cho lãi gộp cao nhất, khách hàng nào đem lại lãi gộp cao nhất. Từ đó, xác định nên đẩy cao mặt hàng nào vào mùa nào và tập trung chăm sóc đối tượng khách hàng đem lại lãi gộp cao cho cửa hàng. 

Quản lý giá mua và giá bán có vai trò rất quan trọng đối với cửa hàng. Khi các tiêu chí quản lý đã được xác lập, để hệ thống chạy tự động mà vẫn kiểm soát chặt chẽ thì việc ứng dụng phần mềm 1C:BÁN LẺ 8 cũng là một ưu tiên đáng xem xét. Phần mềm sẽ giúp quản lý cửa hàng chính xác hơn về số tồn kho, doanh thu bán hàng, quản lý khách hàng thân thiết, tự động tính toán các chương trình giảm giá… Khi cửa hàng có người bán thuê, chủ cửa hàng mưu cầu quản lý một cách thông mình hơn và các chương trình marketing được chạy hỗn hợp thì ứng dụng 1C:BÁN LẺ 8 là lựa chọn tốt nhất của chủ cửa hàng.

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2015

Những yêu cầu trong việc ghi nhận doanh thu và quản lý chi phí cho thuê kho bãi trên phần mềm kế toán 1C:KẾ TOÁN 8

Hiện nay, với tốc độ phát triển về kinh tế đặc biệt là nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng khiến việc lưu trữ hàng hóa gặp khó khăn. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp, cá nhân gặp khá nhiều thách thức. Vậy làm sao để có một nơi có thể chứa hàng hóa với không gian rộng và an toàn đó là nỗi băn khoăn của không ít các doanh nghiệp, cá nhân đang kinh doanh hiện nay. Chính từ nguyên nhân đó, dịch vụ cho thuê kho bãi ra đời và ngày càng phát triển lớn mạnh. Khi các doanh nghiệp cho thuê kho bãi phát triển lớn mạnh và quy mô hơn, đòi hỏi cần có một phần mềm kế toán theo dõi chi tiết cụ thể hoạt động thuê kho từ doanh thu, chi phí đến lãi lỗ. 

Vậy làm thế nào để quản lý tốt hoạt động cho thuê kho bãi cũng như làm sao để công tác kế toán trở nên đơn giản và dễ dàng nhất?


Để quản lý tốt doanh thu, chi phí cho mảng hoạt động này, trước tiên cần hiểu rõ một vài lý thuyết hạch toán cơ bản: doanh thu cho thuê kho bãi phải được ghi nhận theo phương pháp đường thẳng trong suốt thời hạn cho thuê mà không phụ thuộc vào phương thức thanh toán, trừ khi áp dụng phương pháp tính khác hợp lý hơn. Thêm nữa, chi phí cho thuê kho trong kỳ bao gồm khoản khấu hao tài sản cho thuê, trong trường hợp này là khi bãi cho thuê và số chi phí trực tiếp ban đầu được ghi nhận ngay hoặc phân bổ dần cho suốt thời hạn cho thuê phù hợp với việc ghi nhận doanh thu. 

Đối với việc quản lý chi phí cho thuê kho 

Ban đầu, cần xác định rõ là tài sản cho thuê có nguồn gốc như thế nào? Là tài sản của đơn vị hay đây là hoạt động thuê kho của một đơn vị sau cho một đơn vị khác thuê lại. 

Nếu tài sản đó là tài sản cố định của công ty, trường hợp này, cần xác định ngay đây là hoạt động cho thuê hoạt động. Khi đó, chi phí đầu vào của hoạt động có thế là các loại chi phí sau: chi phí trực tiếp ban đầu liên quan đến mảng cho thuê kho, kế toán có thể tập hợp luôn vào tài khoản chi phí, hoặc đưa vào tài khoản chi phí trả trước và phân bổ dần vào các kỳ tiếp theo. Trên phần mềm kế toán 1C, để hạch toán nghiệp vụ này, kế toán có thể sử dụng chứng từ "Tiếp nhận hàng hóa, dịch vụ" với dạng giao dịch mua, ký gửi. Để phân loại rõ các loại chi phí đầu vào, kế toán có thể sử dụng khái niệm "Dạng chi phí" trên phần mềm. Tại đây, kế toán ghi nhận rõ từng loại chi phí phát sinh như: chi phí khấu hao, chi phí in ấn tài liệu, chi phí tiếp khách, chi phí ngoại giao... Đối với trường hợp ghi nhận chi phí là chi phí trả trước, kế toán cần khai báo rõ tiêu thức phân bổ: phân bổ vào tài khoản chi phí nào, phân bổ trong bao lâu... 

Với danh mục dạng chi phí như trên, kế toán có thể không cần tạo nhiều tiểu khoản mà vẫn theo dõi được chi tiết từng loại chi phí phát sinh.

Ngoài ra, còn một khoản chi phí đầu vào khác rất quan trọng đó là chi phí khấu hao tài sản (kho bãi). Trên phần mềm 1C, việc ghi nhận chi phí khấu hao phân bổ sẽ được ghi nhận hoàn toàn trong chứng từ “Đóng sổ cuối kỳ”. Cuối kỳ, kế toán có thể căn cứ vào bảng tính khấu hao để kiểm tra xem, phần mềm đã trích khấu hao chuẩn chưa, đã ghi nhận vào sổ sách chưa...

Một trường hợp khác đơn giản hơn, đó là kho bãi đó là do đơn vị đi thuê sau đó cho bên khác thuê lại. Như vậy, chi phí đầu vào của mảng này sẽ được ghi nhận căn cứ vào hóa đơn bên cho thuê kho xuất cho bên đơn vị mình. Để ghi nhận khoản chi phí đó, kế toán có thể đưa thẳng vào giá vốn hàng bán, hoặc lại đưa vào tài khoản chi phí trả trước và phân bổ cho các kỳ sau. Việc ghi nhận này được thực hiện trong chứng từ "Tiếp nhận hàng hóa dịch vụ" ở tab “Dịch vụ”.

Đối với việc quản lý doanh thu thuê kho

Trường hợp đơn vị thu tiền cho thuê kho vào định kỳ, kế toán sẽ ghi nhận doanh thu và xuất hóa đơn đầu ra trong tháng. Để thao tác nghiệp vụ này trên phần mềm kế toán 1C, kế toán sử dụng chứng từ Giao hàng và cung cấp dịch vụ hoặc Biên bản cung cấp dịch vụ. Sau khi ghi nhận doanh thu trên chứng từ xong, thông tin hóa đơn đầu ra cũng được ghi nhận nhanh chóng. Ngoài ra, với phần mềm 1C, kế toán hoàn toàn có thể tự in hóa đơn trên phần mềm, rất thuận tiện cho các đơn vị hiện nay. 

Mẫu Hóa đơn GTGT trên phần mềm 1C, ngoài ra, người sử dụng có thể tự thiết kế mẫu cho đơn vị mình.

Trường hợp đơn vị thu tiền cho thuê kho trước cho nhiều kỳ, kế toán cần ghi nhận khoản thu trước này là một khoản doanh thu chưa thực hiện. Trên phần mềm 1C, bạn có thể ghi nhận nghiệp vụ này trong chứng từ “Giao dịch thủ công”. Tại đây, bạn cần hạch toán khoản tiền thu về, khoản thuế đầu ra phải nộp cũng như khoản doanh thu nhận trước. Cuối kỳ, bạn cần kết chuyển doanh thu chưa thực hiện sang thành doanh thu trong kỳ. Giao dịch này cũng có thể thực hiện trong chứng từ Giao dịch thủ công. 

Đối với khoản doanh thu chưa thực hiện, trên phần mềm 1C:KẾ TOÁN 8 đang theo dõi chi tiết cho từng đối tác và từng hợp đồng. Nhờ đó, kế toán có thể biết chi tiết khoản doanh thu phân bổ cho từng hợp đồng có chuẩn hay không? Để kiểm tra điều này, kế toán có thể sử dụng báo cáo "Bảng cân đối theo một tài khoản" và chỉ ra tài khoản 3387. Như vậy, để theo dõi chuẩn được khoản doanh thu chưa thực hiện này, kế toán cần chuẩn hóa danh mục khách hàng và hợp đồng, tránh bị trùng lặp nhằm đảm bảo giá trị chi tiết khoản doanh thu chưa thực hiện cho từng đối tượng và từng hợp đồng là chính xác. 

Đối với hoạt động cho thuê kho bãi, kế toán có thể tập hợp chi phí, tính giá thành cũng như ghi nhận doanh thu chi tiết cho từng đơn hàng, khách hàng, hoặc cũng có thể tập hợp vào thành một mảng hoạt động là hoạt động thuê kho. Việc lựa chọn hướng đi nào là tùy thuộc vào yêu cầu quản trị về giá thành, về doanh thu của từng đơn vị. Đối với phần mềm 1C, làm theo hướng nào cũng hoàn toàn đơn giản và thuận tiện. 

Đối tượng tập hợp chi phí ở đây có thể hiểu là "Nhóm sản phẩm" trên phần mềm kế toán 1C. Kế toán có thể đặt một nhóm sản phẩm là "Hoạt động cho thuê kho bãi" để theo dõi doanh thu và chi phí phát sinh trong kỳ, và cuối kỳ lên được một báo cáo lãi lỗ của hoạt động thuê kho. Hoặc một hướng đi khác, chi tiết hơn, kế toán có thể đặt mỗi đơn hàng phát sinh là một nhóm sản phẩm ví dụ như: Trong kỳ, có phát sinh hoạt động cho thuê kho đối với 3 công ty A, B, C; kế toán có thể đặt 3 nhóm sản phẩm: "Cho thuê kho công ty A"; "Cho thuê kho công ty B" ; "Cho thuê kho công ty C", từ đó, theo dõi chi tiết doanh thu và chi phí cho từng đơn hàng. 

Danh mục Nhóm sản phẩm trên phần mềm 1C:KẾ TOÁN 8 có thể được hiểu như một đối tượng tập hợp chi phí và tính giá thành

Việc ghi nhận doanh thu, chi phí hoạt động cho thuê kho bãi đã tương đối đầy đủ, mục tiêu cuối cùng là lên được một báo cáo thu nhập, chi phí cũng như lãi lỗ. Trên phần mềm 1C, kế toán có thể sử dụng báo cáo "Thu nhập và chi phí" hoặc “Báo cáo bán hàng” để theo dõi được tình hình kinh doanh của đơn vị. 

Với báo cáo bán hàng sẵn có trong phần mềm, kế toán có thể theo dõi doanh thu bán hàng theo nhiều cách khác nhau tùy vào mục đích lấy thông tin của người dùng

Chỉ với việc xây dựng quy trình đơn giản như trên, bạn hoàn toàn có thể quản lý tốt hoạt động cho thuê kho bãi trên phần mềm 1C. 




Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2015

Kỳ 2: Cơ chế đồng bộ hóa dữ liệu giữa 1C và Website theo lịch biểu

Trong mô hình này, Website và 1C làm việc hoàn toàn độc lập với nhau, mỗi chương trình đều có riêng một cơ sở dữ liệu, nhưng trong một khoảng thời gian đã định thì các thông tin cần thiết sẽ được đồng bộ hóa với nhau.

Phương pháp này có tính đến yếu tố tâm lý đã nêu ở trên, Website không có bất kỳ truy cập nào tới 1C! Như vậy, để tất cả đều có thể hoạt động đúng cách thì 1C cần phải định kỳ liên hệ với Website để gửi đi hay nhận lại dữ liệu.

Ưu điểm của phương pháp này so với phương pháp đầu tiên như sau:
  • Website làm việc độc lập, cùng với dữ liệu của mình và không phụ thuộc vào khả năng truy cập tới 1C;
  • 1C không tiếp nhận và xử lý các truy vấn từ Website, và như vậy không bị chịu thêm tải;
  • Trong trường hợp vi phạm bảo mật của Website, khả năng bảo mật của 1C không hề bị vi phạm.
Trong kiến trúc này, có một nhược điểm so với phương pháp đầu tiên: có độ chễ về việc cập nhật dữ liệu. Nếu như, ví dụ, ngoài bán hàng trên mạng, chúng ta còn kinh doanh bán lẻ tại cửa hàng thì trên Website có thể vẫn hiển thị là còn hàng hóa, nhưng trong kho thì thực tế không còn. Tỷ lệ xác suất vênh dữ liệu giữa 2 hệ thống sẽ tỷ lệ nghịch với khoảng thời gian cập nhật. Đối với khoảng thời gian cập nhật không lớn (một vài phút) thì tỷ lệ vênh này có thể sẽ không lớn.

Nhưng, thứ nhất, có một tiền đề mà sau đó đã được chứng minh trong thực tế: đối với gian hàng trực tuyến đại trà, nhược điểm này không phải là TỐI QUAN TRỌNG. Xác suất phát sinh tình huống này không lớn và càng giảm đi khi giảm khoảng thời gian trao đổi, ngoài ra, phần lớn các gian hàng trực tuyến đều bán hàng mà không theo số lượng hàng tồn thực tế và thường ẩn đi số lượng hàng tồn thực tế đối với khách ghé thăm. Vâng, và nếu như tình huống này có xảy ra thì trong phần lớn các trường hợp đều có thể tìm được hàng hóa một cách nhanh chóng.

Thế còn điều thứ hai? Còn điều thứ hai là có thể sử dụng một số giải pháp công nghệ để sao cho có thể làm giảm khoảng thời gian cập nhật mà không để lại hậu quả.

Xin nhắc lại một lần nữa, chúng ta cần giải quyết bài toán tích hợp mà dành cho giải pháp đóng gói trong phần lớn các trường hợp. Tất nhiên, cũng có những cửa hàng quan tâm tới sự khác biệt với các yêu cầu đặc thù. Cũng giống như mua xe con, nhiều người không chỉ dùng các xe đóng hộp mà còn muốn “độ” thêm một vài thứ?! Tất nhiên, nếu khách hàng cần "độ" thì chúng tôi luôn sẵn sàng đáp ứng…

Thế còn về Web-service, Bạn có thể đặt ra câu hỏi như vậy? Bởi vì nếu như không phải là từ phía 1C thì bây giờ cần phải đăng tải Web-service trên phía Website? Nếu nói về Web-service thì thế này: chúng tôi đã bỏ qua nó. Và thay vào đó, chúng tôi quyết định thực thi cơ chế trao đổi theo một chuẩn giao thức thường dùng từ trước đến nay là HTTP kèm theo trao đổi qua tệp với chuẩn CommerceML.

Việc trao đổi theo HTTP có nghĩa là 1C truy cập đến một Script trên Website bằng phương thức POST, chuyển lên đó các tệp dữ liệu. Điều này cũng tốt, bởi vì ở đây không cần phải tùy chỉnh thêm gì cả. Cổng 80 đã được mở trong phần lớn các Firewall, bởi vì thông qua cổng này có kết nối với Internet cho cả văn phòng, và 1C cũng thường kết nối với Internet đúng như vậy. Script trên Website đã có sẵn trong bộ cài đặt của CMS, và Script này cũng chẳng cần phải đăng tải bổ sung tại bất kỳ nơi nào.

Còn chuẩn CommerceML cũng khá tốt bởi vì đây là chuẩn mở trên cơ sở XML mà được dùng chuyên dụng để trao đổi các thông tin thương mại: bảng mã hiệu danh mục, nhóm hàng cùng với thuộc tính hàng hóa, hàng hóa, đơn hàng. Việc chuyển dữ liệu có thể được thực hiện giữa các hệ thống, trong đó bao gồm giữa Website và Back-office. Hiện nay, chuẩn này đã bắt đầu được áp dụng vào thực tế và phát triển. Hiện tại đã có phiên bản 2.05, trong đó có rất nhiều điểm mới. Nhưng, tất nhiên, có một điều làm chúng ta vui mừng, vì chuẩn này đã được hỗ trợ mặc định trong các giải pháp của 1C.

Ví dụ về các tệp CommerceML: tệp với thông tin hàng hóa, tệp với bảng giá (đề xuất thương mại), tệp với thông tin đơn hàng từ Website và đến Website.

Kết quả là chúng ta có được kiến trúc tích hợp như sau:


Trong thành phần của 1C:DOANH NGHIỆP có bao gồm một mô-đun chuyên dụng để trao đổi dữ liệu với Website mà trong đó có thể thiết lập các tham số trao đổi. Từ mạng cục bộ của doanh nghiệp có tạo ra các truy vấn đến Website (được đặt trên một Hosting nào đó) theo giao thức HTTP. Mũi tên đến Website là hiển thị hướng truy vấn, hơn nữa, phía chủ động tạo truy vấn bao giờ cũng là 1C.

Giao thức trao đổi 1C với Website

Giao thức trao đổi là chuẩn mở hoàn toàn, có thể được bổ sung và thay đổi. Thông tin về giao thức dược đăng tải trong các tài liệu của Bitrix và trên trang Web của 1C.

Như vậy, tất cả những gì đã nói ở trên bằng lời nói có thể hình dung như sau:
Chương trình 1C gửi truy vấn HTTP cùng với đăng nhập HTTP dưới dạng:
http://<Site>/bitrix/admin/1c_exchange.php?type=catalog&mode=checkauth

Website trả lời bằng 3 dòng (với dấu cach “\n”):
1. Từ "success";
2. Tên Cookie;
3. Giá trị Cookie.

Ghi chú:
Tất cả các truy vấn tiếp theo đến Website đều được dẫn dắt từ phía 1C bằng tên và giá trị Cookie mà nhận lại được bằng lệnh “checkauth”.
Bước tiếp theo, 1C hỏi Website một vài tham số để tiến hành trao đổi tiếp theo:
http://<Site>/bitrix/admin/1c_exchange.php?type=<chế_độ>&mode=init
(chế_độ: catalog hoặc sale, để kết xuất hàng hóa và kết nhập đơn hàng tương ứng)

Website trả lại 2 dòng nhỏ:
1. zip=yes/no, thông báo về việc hỗ trợ trao đổi theo định dạng ZIP.
2. file_limit=<number>, trong đó <number> - kích cỡ lớn nhất được phép của tệp (tính bằng byte) để chuyển 1 truy vấn. Nếu kích thước của tệp lớn hơn thì nó sẽ bị cắt thành nhiều phần.
Khi đã thiết lập kết nối và đã xác định các tham số thì sẽ bắt đầu trao đổi tệp CommerceML. Phụ thuộc vào chế độ trao đổi 1C:

a. Chuyển cho Website các thông tin về danh mục hàng hóa

http://<Site>/bitrix/admin/1c_exchange.php?type=catalog&mode=file&filename=<tên_tệp>
Chương trình 1C kết nhập tệp trao đổi theo định dạng CommerceML 2 lên Server bằng cách gửi nội dung tệp hoặc một phần của tệp dưới dạng POST. Trong trường hợp ghi lại tệp thành công, Website trả lại "success".

b. Truy vấn đơn hàng từ Website

http://<Site>/bitrix/admin/1c_exchange.php?type=sale&mode=query
Website đưa ra các đơn hàng theo định dạng CommerceML 2. Trong trường hợp nhận được thành công và ghi đơn hàng vào 1C, sẽ kết thúc truy vấn dưới dạng:
http://<Site>/bitrix/admin/1c_exchange.php?type=sale&mode=success

c. Chuyển lên Website các dữ liệu về kết quả xử lý đơn hàng nhận được trước đây

http://<Site>/bitrix/admin/1c_exchange.php?type=sale&mode=file&filename=<tên_tệp>  
Kết nhập tệp trao đổi lên Server bằng các gửi nội dung tệp dưới dạng POST. Trong trường hợp ghi tệp thành công, Bitrix đưa ra phản hồi “success”. Thông tin bổ sung trong các dòng tiếp theo có thể là ghi chú cho việc kết nhập.

Nếu như trong quá trình thực hiện một truy vấn nào đó mà có xảy ra lỗi thì hệ thống Bitrix sẽ trả lời dưới dạng: trong dòng đầu tiên là từ “failure”, còn trong các dòng tiếp theo là mô tả lỗi mà đã xảy ra trong quá trình xử lý truy vấn. Nếu như đã xảy ra lỗi không thể xử lý được ở mức độ hạt nhân của sản phẩm hay truy vấn SQL thì trong trường hợp này sẽ trả lại mã HTML của Website.
Như vậy, những gì mà chúng ta vừa xem xét là một thủ tục rất đơn giản nhưng đảm bảo được tính tin cậy. Toàn bộ được xây dựng trên 3 trụ cột:
  • Trao đổi dữ liệu bằng giao thức HTTP;
  • Chủ trì trao đổi bao giờ cũng là 1C;
  • Định dạng và giao thức trao đổi dữ liệu là dạng mở.
Nhân tiện cũng cần nói thêm rằng, sau một khoảng thời gian, giao thức trao đổi CommerceML đã nhận được nhiều ủng hộ từ phía những công ty phát triển CMS khác, và hiện nay, đây là chuẩn được thừa nhận rộng rãi để tương tác giữa 1C và Website. Điều này khá quan trọng, bởi vì ngay từ đầu chúng tôi đã xác định rằng: sẽ không là người độc quyền, không tạo ra chuẩn đóng mà sẽ cung cấp khả năng cho mọi người để phát triển tiếp theo, để hoàn thiện và tùy ứng trong từng dự án cụ thể. Và như vậy, theo cách nhìn của chúng tôi, đã đạt được mục tiêu lựa chọn kiến trúc tối ưu.

Phần một của bài viết này không quá dài, nhưng tạm thời là như vậy.

Trong phần hai, chúng tôi sẽ nói về:
  • Cách mà chúng tôi đã tối ưu việc chuyển dữ liệu giữa 1C và Website;
  • Cách chuyển dữ liệu lớn và vượt qua được các hạn chế thường gặp của Hoster;
  • Giao diện tùy chỉnh tích hợp theo từng bài toán cụ thể trong 1C cũng như trên Website;
  • Cách tạo thêm các khả năng bổ sung cho trao đổi và làm những điều khác biệt.


Thứ Hai, 13 tháng 4, 2015

Kỳ 1: Phát triển công cụ tích hợp giải pháp 1C với gian hàng trực tuyến (kết nối trực tiếp website với 1C)

Trong chuỗi bài viết này, các chuyên gia công nghệ của Bitrix chia sẻ một số kinh nghiệm khi tiến hành xây dựng công cụ tích hợp giữa hệ thống quản trị Web (CMS) của Bitrix với giải pháp Back-office của 1C. Hiện nay, công cụ này có tính đa năng và đã được đóng gói sẵn trong CMS Bitrix và 1C. Như vậy, việc tích hợp Website và 1C đã trở nên đơn giản hơn bao giờ hết. 

Làm thế nào để luôn đảm bảo cho danh sách hàng hóa và số lượng hàng tồn trên Website luôn được cập nhật, việc xử lý đơn hàng của khách được thực hiện theo đúng như quy trình nghiệp vụ được quy định trong doanh nghiệp? Rất nhiều chủ gian hàng trực tuyến (cửa hàng trên Internet) đã va chạm đến bài toán này.

Tích hợp một gian hàng trực tuyến với hệ thống kế toán của doanh nghiệp, nói chung không phải là một công việc quá phức tạp. Nhưng để tạo ra một cơ chế tích hợp một giải pháp CMS đóng gói và sao cho việc này trở nên đơn giản và dễ hiểu khi ứng dụng đại trà, đồng thời đảm bảo tính đa năng cho nhiều nhiệm vụ khác nhau thì lại là bài toán không hề đơn giản, nhưng rất hấp dẫn. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ mô tả kinh nghiệm triển khai công cụ tích hợp gian hàng trực tuyến với hệ thống giải pháp 1C:DOANH NGHIỆP.


Trước tiên, chúng tôi sẽ nói về việc lựa chọn kiến trúc và kỹ thuật của giải pháp, và cuối cùng để biết được xem cách tùy chỉnh và làm việc của cơ chế tích hợp này.

Thường thì rất nhiều các gian hàng trực tuyến được tạo ra để bổ sung cho các kênh bán hàng sẵn có: cửa hàng, điểm bán hàng, bán hàng đại lý… Và thông thường thì tất cả các kênh đều hợp nhất vào một hệ thống kế toán chung hoặc hệ thống ERP mà trong đó có thực hiện các quy trình nghiệp vụ chính của công ty:
  • quản lý danh mục hàng hóa;
  • bán hàng và mua hàng;
  • tài chính, báo cáo, phân tích…
Trong trường hợp này sẽ phát sinh ra một vấn đề nóng bỏng là để làm sao cho gian hàng trực tuyến được tích hợp với hệ thống kế toán hoặc hệ thống ERP của doanh nghiệp.

Điều đầu tiên và quan trọng nhất khi tích hợp là ý thức được mục đích và nhiệm vụ cần giải quyết. Và sau đó từ đây thì mới lên kế hoạch thực thi, xem cần chuyển dữ liệu gì và và chuyển như thế nào:
  • đảm bảo kết xuất danh mục hàng hóa (mà đã nhập trong ERP) lên Website và duy trì tính thiết thực của danh mục này;
  • chuyển đơn hàng với các thông tin cần thiết từ Website vào ERP;
  • thông báo cho khách hàng về tiến trình thực hiện đơn hàng của khách mà đã được xử lý trong ERP. 
Tất cả đều rất hợp lý và đơn giản. Nhưng các bạn có lẽ sẽ đồng ý rằng, rất nhiều người trong số bạn đều đã chứng kiến một điều, đó là Website đang sống trong một cuộc sống riêng, còn hệ thống kế toán thì cũng có riêng cho mình một cuộc sống. Khi đặt hàng ở gian hàng trực tuyến, sau cuộc gọi từ phía người quản lý bán hàng thì chúng ta mới phát hiện ra rằng, trong kho đã hết mất mặt hàng cần đặt, còn đơn giá hay tỷ giá ngoại tệ thì không đúng với thực tế, hoặc trên Website đã đăng tải hàng hóa không đúng như đóng gói, hoặc là với hình vẽ có màu khác.

Tất nhiên, đối với cửa hàng như vậy chỉ có thể có chung một kết quả như sau: với tâm trạng thất vọng và bức xúc, khách hàng sẽ khó có được mong muốn quay trở lại đây một lần nữa, cho dù có rất nhiều cố gắng chăm sóc từ phía người quản lý bán hàng.


Việc này đã xảy ra vào năm 2007. Cùng với việc phổ cập các gian hàng trực tuyến và mức độ tăng nhanh về nhu cầu đối với bài toán tích hợp thì chúng tôi, những người phát triển hệ thống CMS hiểu ra rằng, cần phải đề xuất cho khách hàng một giải pháp đóng gói và có độ tin cậy cao để giải quyết bài toán tích hợp như vậy: đơn giản trong tùy chỉnh và sử dụng.

Nhiệm vụ đầu tiên: cần lựa chọn hệ thống Back-office nào để xây dựng giải pháp tích hợp? Tại thời điểm đó, và cũng như hiện tại, giải pháp phổ dụng nhất ở Nga là nền tảng công nghệ 1C:DOANH NGHIỆP, và phần lớn khách hàng đều muốn tích hợp Website của mình với 1C. Trong phần giải quyết bài toán thương mại, nhu cầu lớn nhất là cấu hình 1C:Quản lý thương mại. Và việc tích hợp đã được tiến hành chính cho giải pháp này.

Tất nhiên, tất cả những gì được viết ra ở đây đều có thể áp dụng cho việc giải quyết bài toán tích hợp của các giải pháp ERP và CMS khác. Nhưng phương pháp và ý tưởng là điều quan trọng, bởi vì nó mang tính đa năng, và mã nguồn đã dùng đều có thể tùy biến cho mọi tình huống.

Nhiệm vụ ngày càng được chi tiết hóa và chúng tôi đã bắt đầu công việc. Để bắt đầu, cần phải xác định xem cần có kiến trúc tương tác như thế nào. Nói chung, ở đây có 2 cách tiếp cận (phương pháp):
  1. Kết nối trực tiếp Website đến 1C.
  2. Trao đổi định kỳ giữa 1C và Website.
Chúng ta cùng thử xem phương pháp thứ 1: kết nối trực tiếp từ Website đến 1C

Khi áp dụng phương pháp này, khi cần thiết, Website sẽ gửi 1 truy vấn đến 1C hoặc gửi đi dữ liệu cho 1C.
Cần lưu ý rằng, việc hiển thị danh mục hàng hóa trên Internet và đặt hàng trực  tuyến hoàn toàn có thể được thực hiện mà không cần phải có CMS, bởi vì 1C đã có tính năng như vậy, ví dụ như Web-extension, hoặc nền tảng công nghệ 1C:DOANH NGHIỆP phiên bản 8.2 với công nghệ “Managed application” mà cho phép chuyển các tính năng cục bộ của giải pháp 1C lên Website. 

Đây là ví dụ điển hình của phương pháp thứ nhất mà có một số ưu điểm, cũng như nhược điểm cho bài toán của chúng ta.
Các ưu điểm rất dễ dàng nhận thấy:
  • danh mục hàng hóa luôn được cập nhật ở chế độ thời gian thực;
  • xuất hiện tức thời các đơn hàng mới ở 1C sau khi khách hàng đặt trên Website;
  • thông báo nhanh chóng cho khách hàng về kết quả xử lý đơn hàng;
Để chọn làm giao diện tương tác giữa Website và 1C, thường sử dụng công nghệ Web-service (công nghệ này có tính đa nền tảng và là chuẩn được thừa nhận rộng rãi để tích hợp các hệ thống khác nhau).

Khi đó, tại 1C cần đăng tải Web-service với bộ các phương thức, còn Website sẽ “gõ cửa” đều đều theo thời gian: lấy đi và chuyển lại dữ liệu. Tất cả đều có vẻ rất chuẩn. NHƯNG… phương pháp đầy tính công nghệ này trên thực tế rất tiếc lại không được phổ biến rộng rãi. Theo chúng tôi, có một số nguyên nhân sau đây:

1. Phức tạp trong việc tùy chỉnh để sử dụng đại trà

Để có thể đăng tải Web-service, cần phải thiết lập Web-server, viết lại mã nguồn kết nhập của mô-đun mở rộng, và đăng tải chính Web-service đó. Nếu có ai đó nói rằng: “điều này hoàn toàn không khó, là chuyện nhỏ” thì nói chung đó là ý kiến đúng. Trong 1C thậm chí đã có cả hàm để đăng tải Web-service trên Web-server. NHƯNG… cuộc sống vẫn là cuộc sống, đối với những người sử dụng đại trà, những người không phải là lập trình viên thì cảm thấy rất phức tạp và khó hiểu. Còn khi bắt đầu xuất hiện các vấn đề như: Web-service không làm việc, nhìn ngoài thì không thấy gì, không khởi tạo được người sử dụng, không đủ quyền truy cập… thì mọi người mới bắt đầu thấy choáng váng. Ngoài ra, nếu như doanh nghiệp có quy mô lớn thì cần phải huy động đến chuyên gia công nghệ.

2. Tính phụ thuộc Website vào 1C

Hệ thống kế toán theo nhiều nguyên nhân khác nhau có thể không làm việc: đang cập nhật phần mềm, thay đổi thiết bị, phục hồi từ bản sao lưu dự phòng… Trong khoảng thời gian này, Website sẽ có thể làm việc không chuẩn xác, bởi vì hoàn toàn gắn kết với 1C. Tất nhiên, bạn có thể tính đến các tình huống này và tạo thêm các công cụ bảo vệ nhất định cho Website mà có thể tính đến một số tình huống có lỗi của cơ sở dữ liệu. Nhưng điều này lại buộc phải viết thêm mã nguồn, thêm các thủ thuật lô-gic mà sẽ làm phức tạp hóa hệ thống Web.

3. Tính phụ thuộc của 1C vào Website

Một gian hàng trực tuyến có tiếng thường có nhiều khách ghé thăm, có mức tải lớn, nhiều đơn hàng trong một đơn vị thời gian. Nếu như Website cần phải thường xuyên chui vào 1C để lấy ra danh mục hàng hóa, bảng giá và số lượng hàng tồn thì tất cả mọi thứ đều rất chậm! Web-service là cơ chế thuận tiện, đầy tính công nghệ nhưng không phải là phương pháp trao đổi nhanh. Và ngay cả trong trường hợp khi mà Server 1C được chạy trên thiết bị khá tốt. Còn khi Website có mức tải cao điểm thì có thể làm tê liệt hoàn toàn công việc của cơ sở dữ liệu. Tất nhiên, danh mục hàng hóa có thể để trong bộ nhớ đệm trung gian (Cach) và truy vấn đến đó theo từng thời điểm, nhưng, thứ nhất, sẽ mất đi ưu việt của phương pháp này (chế độ thời gian thực), và thứ hai, còn có một một đề khá lớn nữa theo cách nhìn của chúng tôi: đó là yếu tố TÂM LÝ…  

4. Đe dọa tiềm tàng từ phía Website 

Cùng nhớ lại rằng, 1C là hệ thống kế toán và quản lý chính của doanh nghiệp, trong đó có lưu toàn bộ cuộc sống của doanh nghiệp. Chương trình “1C:Quản lý thương mại” thường được tích hợp với “1C:KẾ TOÁN”, “1C:Nhân sự và tiền lương”. Còn có giải pháp tổng thể, trong đó có tất cả trong 1 gói. Thường thì vấn đề bảo mật của hệ thống này giống như để trên đầu kim, và cách giải quyết khá đơn giản: ngắt bỏ dây cáp “với Internet” ra khỏi Server (phương pháp vật lý, nếu theo như cách nói khoa học). Bây giờ, thử tưởng tượng xem, Bạn đang đứng ở vị trí nhà lãnh đạo mà được nghe thông báo rằng, bây giờ Website sẽ thường xuyên chui vào 1C để lấy ra dữ liệu: ghi, nhận, cập nhật. Như chúng ta đã biết, Website không chui trực tiếp vào 1C mà chỉ thông qua Web-service, nơi mà chỉ có một số quyền với mức độ hạn chế, tuy nhiên dù sao thì như thế cũng sẽ rất khó có thể chấp nhận được. Tại sao vậy? Website có thể bị tấn công và nhiễm vi-rút, đồng thời lại CÓ QUYỀN TRUY CẬP TỚI 1C? Ôi, thế thì phải giải tán ngay…!?

Bởi vậy, chúng tôi đã áp dụng phương pháp thứ hai. 
Việc trao đổi định kỳ giữa 1C và Website như thế nào sẽ được đề cập trong bài viết kỳ 2.

Thứ Tư, 11 tháng 3, 2015

Công nghệ thông tin trong bán lẻ

Hệ thống thông tin hiện nay đã trở thành một công cụ cần thiết cho doanh nghiệp bán lẻ thành công. Cùng với việc sử dụng có hiệu quả, các hệ thống như vậy cho phép các doanh nghiệp có được lợi thế cạnh tranh đáng kể trên thị trường.


Sự phát triển năng động của thương mại bán lẻ dẫn đến sự cạnh tranh gia tăng giữa các doanh nghiệp bán lẻ. Điều này sẽ buộc các doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của mình, trong đó phần lớn phụ thuộc vào khả năng của phần mềm để xử lý khối lượng thông tin lớn. Các yêu cầu về tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiệp thương mại là điều kiện kích thích cho việc xuất hiện nhiều phần mềm chuyên ngành với nhiều khả năng mở rộng. 

Mặt khác, các công ty phần mềm thường xuyên cung cấp cho các doanh nghiệp thương mại các sản phẩm ngày càng hoàn thiện hơn, đảm bảo hiệu quả quản lý cho nhiều quy trình kinh doanh bán lẻ. 

Hôm nay, các doanh nghiệp thương mại sử dụng nhiều giải pháp chuyên ngành như 1C, SAP, Axapta, Navision, Oracle và những giải pháp khác. 

Tương tác giữa các chương trình tại văn phòng trung tâm và chương trình bán lẻ

Một trong những vấn đề lớn cần được giải quyết khi việc xây dựng một hệ thống thông tin tích hợp trong bán lẻ là tương tác và trao đổi dữ liệu giữa các phần mềm quản lý tại văn phòng trung tâm với các chương trình phục vụ giao dịch tại các điểm bán lẻ, trong đó bao gồm các chương trình POS (quầy thu ngân). Giữa hai phần của hệ thống thông tin có luân chuyển các luồng thông tin quan trọng. Các luồng thông tin từ các cửa hàng là thông tin bán hàng tại quầy thu ngân. Từ văn phòng trung tâm đến các cửa hàng có chuyển các thông tin về danh điểm hàng hóa, giá bán và điều kiện bán hàng khác. 

Trong hệ thống tại văn phòng có tập trung các tính năng quản lý tập trung về danh điểm hàng hóa, chính sách giá đối với toàn bộ hệ thống, thông tin về các chương trình khuyến mại, giảm giá và các quy trình nghiệp vụ khác điển hình trong các chuỗi bán lẻ lớn. Phần thứ hai của hệ thống thông tin dùng cho các điểm bán lẻ (POS) được dùng để tự động hóa các quy trình đặt hàng và tiếp nhận hàng hóa, kiểm kê và các quy trình phi tập trung khác. 

Thực tế cho thấy, việc trao đổi thông tin giữa các chương trình tại văn phòng và phần mềm bán lẻ cho phép giảm bớt các chi phí vận hành ở mức độ các cửa hàng riêng biệt cũng như trong toàn bộ doanh nghiệp. 

Chiến lược thích ứng các quy trình kinh doanh và hệ thống thông tin

Các câu hỏi cơ bản được đặt ra cho doanh nghiệp trong quá trình cải thiện hoặc triển khai hệ thống thông tin mới thường là quyết định lựa chọn 1 trong 2 phương án: một là xem mức độ thích ứng hệ thống thông tin theo quy trình quản lý đã tối ưu trong doanh nghiệp, và hai là ngược lại, nghĩa là xem xét mức độ cần tối ưu hóa lại quy trình để thích ứng với các tính năng của hệ thống thông tin đang triển khai. Không giống như các chuỗi bán lẻ phương Tây, chẳng hạn như Achan và Metro AG, trong đó các hệ thống thông tin chủ yếu được sử dụng và hoàn thiện cùng với các quy trình kinh doanh của công ty, vấn đề lựa chọn phương án trở nên cực kỳ quan trọng cho các doanh nghiệp bán lẻ của Việt Nam. 

Tái cấu trúc và tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ thường liên quan trực tiếp đến các cơ chế tương tác giữa các nhân viên và các bộ phận trong doanh nghiệp, vì vậy, trong giai đoạn đầu triển khai hệ thống thông tin mới, điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả công việc của người lao động. Ngoài ra, chi phí của hoàn thiện hệ thống thông tin mà được tích hợp với các quy trình nghiệp vụ của công ty trong tương lai lại phụ thuộc trực tiếp vào các quyết định đưa ra ở giai đoạn triển khai. 

Nếu doanh nghiệp tự mình sau này nâng cấp hệ thống thông tin thì sẽ rất tốn kém để duy trì bộ phận CNTT khá đồ sộ trong doanh nghiệp, và chỉ có một số ít các chuỗi bán lẻ lớn mới có đủ khả năng làm điều này. Đối với các nhà bán lẻ vừa và nhỏ, họ thường sử dụng các sản phẩm phần mềm đóng gói và thường xuyên được cập nhật bởi nhà sản xuất. Như vậy, nếu như đối với các nhà bán lẻ lớn thì hệ thống thông tin riêng biệt đặc thù là một trong những lợi thế cạnh tranh chủ đạo thì đối với các doanh nghiệp bán lẻ vừa và nhỏ, lợi thế cạnh tranh chỉ có thể là các quy trình nghiệp vụ được dựa trên các giải pháp thông tin chuẩn. 

Các tính năng chính của hệ thống thông tin

Hệ thống thông tin hiện đại cho phép trong thời gian khá ngắn có thể xác định được xu hướng quan trọng trong việc phát triển của công ty nói chung và để đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận nói riêng. Bằng cách thu thập, xử lý và phân tích thông tin gần như trong thời gian thực, doanh nghiệp có thể nhanh chóng điều chỉnh hoạt động và có tính đến các thay đổi trong môi trường bên ngoài sớm hơn so với đối thủ cạnh. 

Các tính năng quan trọng nhất của hệ thống thông tin hiện đại, bao gồm: 
  • lập kế hoạch các chỉ tiêu hoạt động chính của các cửa hàng bán lẻ, chẳng hạn như doanh thu, lợi nhuận, số lượng và giá trị trung bình của từng hóa đơn;
  • phân tích hiệu quả trong việc sử dụng không gian bán lẻ, năng suất nhân viên...;
  • đánh giá kết quả so với kế hoạch. Điều này đòi hỏi cần phải nâng cao yêu cầu đối với tính kịp thời thu thập và xử lý thông tin.
Một lưu ý đặc biệt trong tự động hóa các doanh nghiệp là các báo cáo tài chính và sổ sách kế toán. Thường xuyên có các thay đổi trong các quy định về thuế và biểu mẫu báo cáo, do vậy yêu cầu cần có đối với hệ thống thông tin là phải có độ mềm dẻo cần thiết với khả năng thích ứng với các thay đổi. 

Cần lưu ý rằng, việc kiểm soát nội bộ tất cả các dòng tài chính của doanh nghiệp lớn hoặc vừa mà không có hệ thống công nghệ xử lý thông tin hiện đại thì đều rất khó khăn. 

Một vấn đề quan trọng của việc ứng dụng hệ thống thông tin là tương tác với các hệ thống thông tin của các doanh nghiệp khác khác trong việc thực hiện hạch toán thanh toán với nhau. 

Việc tự động hóa phân tích cấu trúc và biến động của một hóa đơn trung bình cho phép nâng cao hiệu quả các chương trình khuyến mại đang chạy trong chuỗi cửa hàng. 

Hệ thống thông tin là một công cụ cho phép kịp thời đưa ra và đánh giá hiệu quả của các quyết định quản lý chiến lược cũng như các dự án đơn lẻ trong khuôn khổ phát triển kinh doanh bán lẻ. Hệ thống có thể được xem như là người bảo lãnh để đảm bảo cho việc chi tiêu hiệu quả từ các nguồn vốn đi vay. 

Phân nhóm hàng hóa và quản lý danh mục sản phẩm

Các đặc điểm chính của hệ thống thông tin chuyên dùng cho bán lẻ là cần phải đảm bảo cho công việc với danh mục mặt hàng lớn và thường xuyên cần cập nhật (từ 2000 cho mô hình chuỗi giảm giá, cho đến 40.000 của siêu thị hàng tiêu dùng). Việc hợp nhất các sản phẩm riêng biệt mà sự tương đồng về thuộc tính, truyền thống tiêu dùng và các tham số khác cho phép phát hiện ra những quy luật chung cho tất cả các nhóm hàng, và từ đó có thể đưa ra các quyết định quản lý ở mức độ thể loại (phân nhóm) hàng hóa. 

Một lợi thế cạnh tranh quan trọng của hệ thống thông tin là cơ chế hữu hiệu để gom nhóm hàng hóa, hoặc tạo ra bảng phân loại hàng hóa. Đối với người mua, một số mặt hàng có thể coi là cùng loại với nhau và có thể được gom nhóm vào cùng một nhóm, và nếu biết cách khai thác cách quản lý hiệu quả các thể loại hàng hóa thì có thể đáp ứng nhu cầu tối đa của khách hàng. Hệ thống thông tin hiện đại cho phép quản lý danh điểm hàng hóa lớn mà được gom nhóm vào thành 3-5 cấp. 

Như vậy, có thêm khả năng phân tích mức độ lợi nhuận của nhóm và phân nhóm hàng hóa, hiệu quả sử dụng diện tích mặt bằng gian hàng, tổng hợp dữ liệu về các biến động của từng thế loại hàng hóa và xây dựng quy trình quản lý danh điểm hàng hóa phù hợp hơn. 

Để quyết định xem có nên đưa một mặt hàng vào danh điểm hiện tại, hoặc loại bỏ ra khỏi danh điểm, có thể thực hiện so sánh các chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận của họ và diện tích không gian bán lẻ trong các nhóm hàng “có vấn đề”. Để xác định các nhóm hàng hóa "có vấn đề", cần tích hợp các dữ liệu bên ngoài hệ thống về sở thích của người tiêu dùng, các biến động và tiềm năng của các thể loại hàng hóa. 

Trên cơ sở dữ liệu, hệ thống tự động tính toán danh điểm hàng hóa tối ưu dựa trên lợi nhuận bán hàng, các dao động nhu cầu theo mùa vụ, sự nhạy cảm của giá và chính sách giá của đối thủ cạnh tranh. Hệ thống tạo ra và chuyển danh mục hàng hóa và giá bán thống nhất, cũng như các chương trình Marketing đến các cửa hàng. 

Hệ thống an ninh trợ giúp cho kinh doanh

Việc tích hợp các yếu tố của hệ thống an ninh với các quy trình nghiệp vụ khác trong doanh nghiệp bán lẻ có thể đem đến nhiều hiệu quả đồng bộ. 

Ví dụ, việc phân tích khung hình của Video giám sát các khách hàng trong gian hàng có thể được sử dụng như một công cụ để xác định hành vi của người mua khi mua các loại hàng hóa nhất định, còn việc phân tích Video ghi lại công việc của nhân viên trong cửa hàng có thể nâng cao hiệu quả làm việc của họ. 

Việc phân tích mua sắm không bình thường cho phép xác định những điểm yếu trong hệ thống an ninh. Dấu hiệu của mua sắm không bình thường có thể là, ví dụ, mua hàng số lượng rất lớn theo một mặt hàng, mua hàng với số lượng lớn với thời gian siêu ngắn tại một quầy thu ngân, hoặc mua hàng với số lượng lớn kèm theo một thẻ khách hàng thân thiết chỉ trong một ngày. Để phân tích, cần có các dữ liệu từ các hệ thống POS của cửa hàng. 

Chi phí và hiệu quả của các hệ thống thông tin

Tất nhiên, hệ thống thông tin càng hoàn hảo bao nhiêu thì chi phí triển khai và hỗ trợ sẽ lớn bấy nhiêu. Trong hầu hết các trường hợp, trước khi triển khai một hệ thống thông tin tích hợp hoặc mô-đun riêng, cần so sánh chi phí với giá trị lợi ích và lợi thế cạnh tranh thu được. Lúc này, kết quả triển khai có thể nhìn nhận theo các tiêu chí như giảm bớt chi phí vận hành, gia tăng thu nhập do việc tăng vòng quay và/hoặc mức độ hấp dẫn của doanh nghiệp bán lẻ.

Theo http://www.1vs.vn/tintuc/14457_chia-se-kinh-nghiem-trien-khai-he-thong-ban-le.html


Thứ Ba, 20 tháng 1, 2015

1VS hỗ trợ Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán hướng dẫn thực hiện thông tư mới

Ngày 22/12/2014, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC thay thế Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 về chế độ kế toán doanh nghiệp và Quyết định 202/2014/QĐ-BTC về hướng dẫn lập báo cáo tài chính hợp nhất. Thông tư mới có hiệu lực thi hành từ 01/01/2015 và áp dụng cho việc lập và trình bày BCTC từ năm 2015 trở đi. 

Quy định mới được cho là cởi mở hơn so với các quyết định trước, mang tính chất hướng dẫn nhiều, coi trọng bản chất hơn hình thức. Tuy nhiên với gần 10 năm tồn tại, quyết định số 15 gần như đã bám rễ, ăn sâu vào phương thức hạch toán của doanh nghiệp. Vì vậy các kế toán viên sẽ gặp khá nhiều băn khoăn, bối rối trong việc áp dụng thông tư mới. Để tháo gỡ vấn đề này, Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán đã phát hành tài liệu hướng dẫn chi tiết Thông tư 200/2014/TT-BTC “Chế độ kế toán doanh nghiệp”.

Bộ sách gồm 02 quyển  với gần 1.000 trang. Nội dung có tính đến các nghiệp vụ đặc thù kinh tế của các đơn vị, điều này khắc phục được tình trạng sơ sài, không đúng đặc trưng của đơn vị khi lập báo cáo tài chính so với chế độ kế toán đã công bố và áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp như hiện nay. Sách không được bán rộng rãi mà sẽ được phát hành thông qua một số đơn vị do Vụ chế độ kế toán và kiểm toán chỉ định. Tại Hà Nội, công ty 1VS là một trong hai đơn vị được Vụ lựa chọn phối hợp triển khai phân phối tài liệu.


Lợi ích của bộ sách đối với độc giả:
  • Tích lũy thêm kiến thức về nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép tài khoản kế toán;
  • Sơ đồ kế toán sẽ hiển thị trực quan, như bức tranh thể hiện sự luôn chuyển của các tài khoản kế toán trong việc phản ánh nội dung kinh tế phát sinh;
  • Hướng dẫn lập BTTC độc lập và BCTC hợp nhất: giúp người đọc hiểu rõ hơn các kỹ thuật và phương pháp cần thiết để lập ra BCTC. Đặc biệt hướng dẫn lập BCTC hợp nhất còn là kỹ thuật và phương pháp loại trừ các khoản phát sinh nội bộ, tạo lên BCTC của tập đoàn. Đảm bảo số liệu một cách đầy đủ, chính xác và minh bạch tình hình hoạt động; 
  • Các ví dụ thực hành: là những tình huống đã xảy ra và có thể sẽ xảy ra được ghi nhận cụ thể và chi tiết, giúp đơn vị biết cách xử lý tình huống khi có phát sinh;
  • Sách thay đổi theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp. Theo đó, Thông tư này thay thế Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006. Thông tư 200 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
Quà tặng thêm từ 1VS khi khách hàng mua sách từ ngày 15/01/2015 tới 28/02/2015
Tặng 01 gói dịch vụ “1C:KẾ TOÁN 8” trên “Mây” trị giá 7 triệu đồng cho 02 năm sử dụng, bao gồm:
  • 01 kết nối, 01 cơ sử dữ liệu
  • Tư vấn, bảo trì online
  • Đào tạo, hướng dẫn sử dụng tại văn phòng 1VS: 2 buổi (06 giờ)
Giá bán: 580.000 VNĐ
Các bước mua sách:
  • Bước 1: Đăng ký online 
  • Bước 2: 1VS kiểm tra thông tin và sẽ liên hệ lại với quý khách hàng  
  • Bước 3: Quý khách thanh toán và nhận sách 
Mọi thông tin chi tiết, mời liên hệ:
Phòng Hỗ trợ Công ty 1VS:
Tel: (04) 3514-85-50, 3514-85-51
Yahoo: ht_1vs hoặc ht2_1vs  hoặc ht3_1vs                              Skype: ht_1vs
Mail: support@1vs.vn                                                             Website: www.1vs.vn

Hãy đăng ký mua sách ngay để nhận nhận thêm nhiều ưu đãi!

Thứ Tư, 10 tháng 12, 2014

Giao diện tự động khởi tạo REST của giải pháp ứng dụng 1C:DOANH NGHIỆP

Thực hiện trong phiên bản 8.3.5.1068.

Thông thường, bạn đăng tải giao diện REST trên Web-server và sau đó các hệ thống ngoài có thể truy cập tới ứng dụng của bạn thông qua truy vấn HTTP. Hiện giờ, nền tảng có thể tự động tạo ra giao diện REST cho tất cả các giải pháp ứng dụng.

Giao diện REST cho phép đọc dữ liệu 1C:DOANH NGHIỆP, thay đổi, tạo các đối tượng dữ liệu mới và xóa bỏ những đối tượng đang có.


Bạn có thể sử dụng giao diện REST để:
  • Tích hợp các giải pháp ứng dụng với các trang web và cửa hàng trực tuyến;
  • Thực hiện các chức năng bổ sung của giải pháp ứng dụng bằng các công cụ ngoài mà không cần thay đổi cấu hình;
  • Kết nhập dữ liệu vào giải pháp ứng dụng và kết xuất dữ liệu;
  • Tích hợp giải pháp ứng dụng với hệ thống tập đoàn, thậm chí không cần phải lập trình thêm.
Các thao tác phổ biến được thực hiện thông qua giao diện REST là:
  • Nhận danh sách chứng từ, danh mục, bản ghi của biểu ghi thông tin… có thể sử dụng bộ lọc;
  • Nhận dữ liệu phần tử danh mục, chứng từ (theo tham chiếu), dữ liệu bản ghi của biểu ghi thông tin độc lập (theo khóa), dữ liệu tập hợp bản ghi của biểu ghi trực thuộc (theo người đăng ký);
  • Chỉnh sửa dữ liệu của một phần tử danh mục, chứng từ và các đối tượng tham chiếu khác;
  • Tạo mới phần tử danh mục, chứng từ, tập hợp bản ghi;
  • Kết chuyển một chứng từ, khởi động quy trình nghiệp vụ.
Nền tảng sử dụng giao thức OData phiên bản 3.0 làm giao thức truy cập. Đây là một giao thức web mở dùng để truy vấn và cập nhật dữ liệu. Giao thức này cho phép thao tác với dữ liệu bằng cách sử dụng các truy vấn lệnh HTTP. Có thể nhận được phản hồi trong các định dạng khác nhau, nhưng hiện tại chúng tôi chỉ hỗ trợ làm việc với các dữ liệu dưới định dạng Antom/XML.

Trong nền tảng này, chúng tôi đã thực hiện phần Sever của dịch vụ REST. Nghĩa là giải pháp ứng dụng có thể tự động cung cấp chức năng qua dịch vụ REST. Để tương tác với dịch vụ REST bên ngoài từ 1C:DOANH NGHIỆP (để tổ chức phần Client), có thể sử dụng các công cụ làm việc với HTTP có sẵn trong nền tảng: các đối tượng HTTPConnection, HTTPRequest và HTTPResponse.

Tuy nhiên chúng ta thấy nhiệm vụ chính của giao diện REST là để tích hợp với công cụ ngoài. Và ở đây, không phát sinh vấn đề nào cả, vì Client OData thực tế đã được sử dụng cho tất cả các nền tảng lớn:
  • Di động: iOS, Windows Phone, Android;
  • Server/ máy để bàn: .NET, Java, PHP, Objective-C, Ruby, JavaScript;
  • Hỗ trợ cho các hệ thống quản trị nội dung (CMS): Drupal, Joomla.
Sử dụng giao diện chuẩn của giải pháp ứng dụng OData rất đơn giản:
  • Trong cấu hình, bạn đăng tải giao diện REST – hộp kiểm "Đăng tải giao diện chuẩn Odata";
  • Sau đó, các đối tượng của giải pháp ứng dụng trở nên khả dụng qua giao diện này;
  • Các phương pháp xác thực OData Client hoàn toàn trùng với các phương pháp thực hiện qua Web-service;
  • Odata Client có thể truy vấn qua HTTP văn bản Metadata, mô tả các đối tượng có sẵn của giải pháp ứng dụng;
  • Odata Client thực hiện thao tác tạo mới, đọc, chỉnh sửa và xóa dữ liệu của giải pháp ứng dụng.
Trong giao diện REST có sẵn tất cả các các đối tượng chính của cấu hình: danh mục, chứng từ, hằng, liệt kê, sơ đồ trao đổi, biểu ghi tích lũy, biểu ghi tính toán, biểu ghi kế toán và biểu ghi thông tin, bảng ảo của biểu ghi thông tin định kỳ, biểu ghi kế toán và biểu ghi tích lũy, sơ đồ trao đổi, hệ thống dạng đặc tính và hệ thống dạng tính toán, các quy trình nghiệp vụ, nhiệm vụ và nhật ký chứng từ.

Hiện tại chưa có sẵn các báo cáo, bộ xử lý, lệnh, các tiêu chí lọc, nhiệm vụ thường kỳ, nguồn dữ liệu ngoài và người sử dụng.

Trong giao diện REST có sẵn các mục tin của đối tượng cấu hình, có thể tạo, đọc, tùy chỉnh, xóa dữ liệu và các phương thức của ngôn ngữ hệ thống. Ví dụ:
  • Đối với chứng từ - Post() và Unpost();
  • Đối với nhiệm vụ - ExecuteTask();
  • Đối với quy trình nghiệp vụ - Start();
  • Đối với biểu ghi thông tin - SliceLast() và SliceFirst();
  • Đối với biểu ghi tích lũy và biểu ghi kế toán - Balance(), Turnovers() và BalanceAndTurnovers();
  • Đối với biểu ghi tính toán - ScheduleData(), ActualActionPeriod(), <TênTínhlại>() và Cơsở<Tên của bản ghi tính toán cơ sở>().
Việc đọc dữ liệu được thực hiện bởi truy vấn GET. Ví dụ, đọc danh sách các danh mục Goods (từ đây về sau chỉ gọi ngắn gọn tên của truy vấn):

GET /OData_Tests_Infobase/odata/standard.odata/Catalog_Goods
 Ví dụ, đọc dữ liệu từ một phần tử danh mục Goods theo GUID:

GET /OData_Tests_Infobase/odata/standard.odata/Catalog_Goods(guid'7f4b5034-0331-11e3-b914-5404a6a68c42')
Tạo một phần tử dữ liệu mới được thực hiện bởi truy vấn POST. Giá trị của tham chiếu được GUID truyền vào bằng không. Khi tạo và thay đổi các đối tượng, giá trị của các thuộc tính được truyền vào nội dung truy cấn với định dạng XML (ở đây nội dung truy vấn được nhập đầy đủ):

POST  /OData_Tests_Infobase/odata/standard.odata/Catalog_Goods HTTP/1.1
Content-Type: application/atom+xml
DataServiceVersion: 3.0;NetFx
MaxDataServiceVersion: 3.0;NetFx
Accept: application/atom+xml,application/xml
Accept-Charset: UTF-8
User-Agent: 1C-Enterprise
Host: test-host:8090
Content-Length: 1610
<?xml  version="1.0" encoding="utf-8"?>
<entry  xmlns=http://www.w3.org/2005/Atom
        xmlns:d=http://schemas.microsoft.com/ado/2007/08/dataservices
        xmlns:m=http://schemas.microsoft.com/ado/2007/08/dataservices/metadata
        xmlns:georss=http://www.georss.org/georss
        xmlns:gml=http://www.opengis.net/gml>
   <category term="EnterpriseV8.CatalogGoods"  scheme=http://schemas.microsoft.com/ado/2007/08/dataservices/scheme />
   <id />
   <title />
   <updated>2013-08-12T11:48:25Z</updated>
   <author>
      <name />
   </author>
   <content type="application/xml">
      <m:properties>
         <d:Code>157</d:Code>
         <d:DeletionMark>false</d:DeletionMark>
         <d:Description>Áo mayô xanh</d:Description>
         <d:IsFolder>false</d:IsFolder>
         <d:Parent_Key m:null="true" />
         <d:Ref_Key m:type="Edm.Guid">00000000-0000-0000-0000-000000000000</d:Ref_Key>
         <d:Marking m:null="true" />
         <d:Supplier_Key>F400322D-7AE8-4803-A7BE-0D80E525E8C2</d:Supplier_Key>
      </m:properties>
   </content>
</entry>
Truy vấn PATCH thực hiện sửa đổi dữ liệu hiện có. Ví dụ, thay đổi dữ liệu của một phần tử danh mục Goods theo GUID'y:

PATCH /OData_Tests_Infobase/odata/standard.odata/Catalog_Goods(guid'7f4b5034-0331-11e3-b914-5404a6a68c42')
Để xóa dữ liệu, sử dụng truy vấn DELETE (sau này, việc đánh dấu xóa sẽ được thực hiện trong các thao tác OData riêng biệt):

DELETE/OData_Tests_Infobase/odata/standard.odata/Catalog_Goods(guid'7f4b5034-0331-11e3-b914-5404a6a68c42')
Các phương pháp của đối tượng ngôn ngữ hệ thống được thực hiện bởi truy vấn POST. Ví dụ, kết chuyển chứng từ:

POST/OData_Tests_Infobase/odata/standard.odata/Document_Invoice(guid'17ed2041-0345-11e3-b914-5404a6a68c42')/Post()

Trong trường hợp bị lỗi, 1C:DOANH NGHIỆP phản hồi với trạng thái HTTP 4XX hoặc 5XX. Trạng thái 4XX chỉ ra lỗi là do thao tác sai của Client, trạng thái 5XX chỉ ra lỗi trên Server. Trong trường hợp trạng thái 4XX, 1C:DOANH NGHIỆP sẽ cố gắng hỗ trợ Client hiểu được nguyên nhân của lỗi và có thể gửi mã lỗi nội bộ bổ sung và thông báo.

Khi đọc và ghi dữ liệu thông qua giao diện REST, nền tảng thực hiện kiểm tra thông thường về quyền sử dụng và gọi ra hàm xử lý sự kiện, ngoại trừ kiểm tra việc điền.

Khi làm việc thông qua giao diện REST có hỗ trợ phong tỏa tự do dữ liệu. Khi truy vấn dữ liệu (của một đối tượng hoặc danh sách), cùng với dữ liệu, nền tảng trả về giá trị của (các) trường PhiênbảnDữliệu. Trong các truy vấn PUT, PATCH và DELETE tiếp theo với cùng dữ liệu này, có thể truyền cho 1C:DOANH NGHIỆP phiên bản của dữ liệu đã đọc. Nếu tại thời điểm này, phiên bản dữ liệu trong cơ sở thông tin không bị thay đổi thì thao tác truy vấn được thực hiện.

Khi nhận danh sách dữ liệu, có thể sử dụng điều kiện chuẩn để lọc truy vấn ODATA. Ví dụ, để nhận các hàng hóa có đơn giá thấp hơn hoặc bằng 3,5 hoặc lớn hơn 200:

GET /OData_Tests_Infobase/odata/standard.odata/Catalog_Goods?$filter=Price le 3.5 or Price gt 200
Nhờ sự linh hoạt và đa nền tảng, chúng tôi thiết lập giao diện tự động khởi tạo REST như là công cụ chính để tích hợp với các hệ thống ngoài. Vì vậy, chúng tôi dự kiến sẽ dừng phát triển và hỗ trợ Web mở rộng.